Vai trò của vàng trên thị trường thế giới
4/12/2012 8:31:45 AM 
Vài nét về vai trò của vàng và thị trường ngoại hối trong lịch sử Ngay từ chế độ chiếm hữu nô lệ, sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng đã thúc đẩy sự hình thành quan hệ trao đổi hàng hóa với phương thức đơn giản nhất là hàng đổi hàng, một hàng hóa đứng ra làm vật ngang giá chung cho những hàng hóa còn lại, v.v....

1. Vài nét về vai trò của vàng và thị trường ngoại hối trong lịch sử

Ngay từ chế độ chiếm hữu nô lệ, sự phát triển của sảnxuất và tiêu dùng đã thúc đẩy sự hình thành quan hệ trao đổi hàng hóa vớiphương thức đơn giản nhất là hàng đổi hàng, một hàng hóa đứng ra làm vật nganggiá chung cho những hàng hóa còn lại, v.v. Từ khoảng 4.000 năm trước, phươngthức trao đổi mới đã được hình thành nhờ sự ra đời của tiền đúc có đóng dấu củanhà băng, thương nhân, giáo sĩ, nhà vua. Tiền kim loại cũng dần dần trở thànhvấn đề bình thường trong thương mại quốc tế. Ban đầu, mệnh giá được ấn địnhtheo giá trị của kim loại trong tiền đúc. Tuy nhiên, sự gia tăng về lượng tiềnđúc trong lưu thông và lòng tin vào giá trị của nó là phương tiện trao đổi đãtạo thuận lợi cho những quầy đổi tiền chuyên nghiệp trong thời La Mã Cổ Đạithực hiện trao đổi một lượng tiền đúc nhất định dựa trên những đồng tiền đúc dohọ phát hành. Nhờ sự phát triển đó, hình thức sơ khai của kinh doanh ngoại hối đượchình thành.

Giai đoạn từ khi Đế chế La Mã sụp đổ cho đến đầu Thờikỳ Trung cổ, các giao dịch ngoại hối trầm lắng do những bất ổn về tài chính,chính trị và sự suy giảm ngoại thương. Tuy nhiên, sang thế kỷ 11, trao đổi tiềntệ bắt đầu sôi động trở lại. Khi ngoại thương và các dòng vốn quốc tế tăng lên,lượng tiền đúc bắt đầu giảm và từng bước bị đẩy lùi khỏi lưu thông, thay vào đólà các loại tiền giấy.

Nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng về thương mại quốc tế,hình thái ngân hàng bán buôn được hình thành và phát triển. Các ngân hàng bánbuôn bắt đầu mở các chi nhánh và thiết lập quan hệ chính thức với các ngân hànghối đoái tại những nước khác, làm tăng thêm tính linh hoạt của thị trường vàgiao dịch ngoại hối. Khi các hoạt động du lịch phát triển, sự gia tăng các dịchvụ ngân hàng tiếp tục khuyến khích phát triển thị trường ngoại hối theo hướngchuyển dần từ hệ thống tiền mặt đơn thuần sang hệ thống tiền mặt và tín dụng.Đáng chú ý, đường cáp ngầm qua Đại Tây Dương được lắp đặt vào cuối thế kỷ 18 đãgóp phần phát triển hệ thống thông tin giữa Châu Âu và Bắc Mỹ, đánh dấu sự bắtđầu của thị trường tài chính toàn cầu.  

1.1. Chế độ bản vị vàng cố định        

Trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp và cá nhângặp phải khó khăn do mỗi nước sử dụng một đơn vị tiền tệ khác nhau. Cụ thể là,khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, họ phải đổi một loại tiềnsang loại tiền khác. Thêm vào đó, kinh doanh ngoại tệ cũng chứa đựng nhiều rủiro như phải mua ngoại tệ với giá cao trong khi giá nội tệ xuống thấp, nhiều đơnvị tiền tệ khác nhau đã khuyến khích hoạt động đầu cơ tiền tệ và gây khó khăncho chính sách tiền tệ, hậu quả là kìm hãm tăng trưởng và khó kiểm soát lạmphát.

Trong nhiều năm, các chính phủ đã đưa ra nhiều giảipháp thích hợp nhằm khắc phục những nhược điểm nêu trên, trong đó giải phápthành công nhất là tập trung vào vàng, mặc dù vàng đã được tìm thấy từ hơn6.000 năm trước, chủ yếu được đãi ra từ cát trên Sông Nil tại Ai Cập và đượcnhiều người biết đến. Năm 1694, vàng được sử dụng làm vật ngang giá dưới dạngvàng thỏi với 1 bảng Anh = 0,257 ounce, tỉ giá này ổn định cho đến năm 1931 dobảng Anh là đồng tiền ổn định hơn so với những đồng tiền khác. Trong thời giantừ thế kỷ 17-18, phần lớn các đồng tiền của các nước Tây Âu đều có khả năngchuyển đổi tự do sang vàng, trong đó mỗi đơn vị tiền tệ có giá trị tương đươngvới một lượng vàng nguyên chất nhất định.

Thuận lợi của chế độ bản vị vàng là áp dụng một thướcđo giá trị chung cho mọi đồng tiền quốc gia, góp phần ổn định đầu tư và thươngmại quốc tế, giảm nhẹ tình trạng bất ổn về tỉ giá. Tuy nhiên, việc duy trì chếđộ bản vị vàng phụ thuộc đáng kể vào thương mại tự do, các nước vấp phải khókhăn trong việc bảo hộ sản xuất trong nước trước sức ép cạnh tranh từ bênngoài. Hơn nữa, khả năng tăng trữ lượng tiền quốc gia bị giới hạn bởi lượngvàng. Tình trạng thất nghiệp và suy thoái kinh tế đòi hỏi phải thay đổi chínhsách tiền tệ theo hướng giảm lãi suất và tăng lượng tiền cung ứng, nhưng chínhsách này đòi hỏi phải loại trừ tính chuyển đổi của vàng và điều chỉnh chế độbản vị vàng.

1.2. Chế độ bản vị vàng thay đổi

Trong khi các nhà tạo lập chính sách quan tâm đến ảnhhưởng của chế độ bản vị vàng đối với nền kinh tế trong nước, các nhà đầu tư vàthương nhân lại cho rằng vàng không phải là phương tiện trao đổi thích hợp, chiphí vận chuyển vàng rất cao, kinh doanh vàng rất nguy hiểm, trữ lượng vàng thếgiới lại có hạn so với nhu cầu sử dụng trong công nghiệp và sự phát triển nhanhchóng của thương mại quốc tế. Trong thế kỷ 19, những vấn đề này đòi hỏi phảichuyển sang chế độ bản vị vàng thay đổi. Theo đó, mỗi loại tiền tệ đều tự dochuyển đổi sang vàng theo tỉ lệ cố định và tự do chuyển đổi sang đồng tiền kháctheo tỉ giá ổn định. Trên thực tế, phần lớn giao dịch được thực hiện bằng nhữngđồng tiền có khả năng chuyển đổi, khi đó vàng bị đẩy lùi dần khỏi lưu thông.Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng này cũng có chung nhược điểm như chế độ bản vịvàng trước đó do các đồng tiền của các nước tiếp tục bị ràng buộc với vàng,tăng trưởng thương mại quốc tế bị phụ thuộc vào sản lượng vàng thế giới. Do đó,chế độ bản vàng này cũng bị sụp đổ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới1929-1933.

1.3. Chế độ bản vị sửa đổi

Mặc dù có nhiều nhược điểm, nhưng chế độ bản vị vàngvẫn được các nhà kinh tế Hoa Kỳ quan tâm theo hướng thiết lập quan hệ vàng – đôla. Lý do là quan hệ vàng – đô la có khả năng bình ổn giá cả trong dài hạn mặcdù vàng có thể gây biến động giá cả và việc làm trong ngắn hạn. Sản lượng vàngthế giới sẽ giảm dần và giá vàng có thể tăng mạnh, dẫn đến tình trạng bất ổntrong hệ thống thanh toán quốc tế.

Năm 1944, các nước thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) đã nhóm họp tại Bretton Woods (New Jersey) nhằm hạn chế sự phụ thuộc vàovàng theo hướng thiết lập một hệ thống tiền tệ và thanh toán ổn định hơn, gọi làhệ thống bretton woods hay chế độ bản vị sửa đổi. Điểm chính của hệ thống nàylà thiết lập tương quan tỉ giá giữa các đồng tiền chủ chốt với đô la Mỹ (USD)và giữa USD với vàng. Đô la Mỹ được nhiều NHTW lựa chọn làm tiền dự trữ, do HoaKỳ cam kết sẽ bán hoặc mua vàng theo yêu cầu của các nước thành viên với giá 35USD/ounce, các nước thành viên IMF hứa hẹn sẽ duy trì tỉ giá ổn định so vớivàng hoặc USD với biên độ dao động ±1%. Nếuđồng bản tệ tăng giá quá 1% so với giá trị danh nghĩa, NHTW nước đó phải bánđồng bản tệ và mua USD, qua đó sẽ đưa giá trị đồng bản tệ về giá trị danhnghĩa. Nếu đồng bản tệ tăng hoặc giảm giá quá mức, thì NHTW nước đó phải đánhgiá lại đồng bản tệ và thiết lập tỉ giá mới so với USD hoặc vàng.

Thành công của hệ thống bretton woods phụ thuộc cănbản vào khả năng của Hoa Kỳ trong việc duy trì giá trị và độ tin cậy của USD,nhưng hệ thống tỉ giá cố định này bị sụp đổ vào năm 1971, chủ yếu do những mấtcân đối trong thanh toán giữa các nước và sự gia tăng tài sản USD tại nước ngoài.Sau những cố gắng phục hồi hệ thống này, cơ chế tỉ giá thả nổi bắt đầu được ápdụng từ năm 1973. Tỉ giá giữa các đồng tiền chủ chốt thay đổi dưới sự giám sátcủa các NHTW tương ứng. Trong trường hợp cần thiết, NHTW sẽ can thiệp vào thịtrường mở nhằm duy trì trật tự kinh doanh tiền tệ hoặc tác động để tỉ giá trởvề mức thích hợp. Những nước nhỏ thường thực hiện chính sách neo tỉ giá với mộtngoại tệ mạnh, thường là với USD hoặc đồng tiền của nước có quan hệ thương mạichủ yếu. Mặc dù tỉ giá thả nổi gây khó khăn cho việc xác định tỉ giá giao sau,nhưng có ưu điểm nổi trội so với chế độ bản vị vàng trước đây, nhất là khả năngphản ứng trước những áp lực hay biến động trên thị trường ngoại hối.

Tỉ giá thả nổi đã thu hút sự tham gia của giới đầu cơnhằm tranh thủ lợi thế về thay đổi tỉ giá, theo đó dòng vốn thường dồn về nhữngđồng tiền có lãi suất hấp dẫn. Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của tíndụng, tiền lương và cung ứng tiền đã dẫn đến kỳ vọng về khả năng bùng nổ lạmphát, trong khi khả năng của các NHTW trong việc thích ứng với cơ chế tỉ giámới còn rất hạn chế. Riêng USD đã nổi lên là đồng tiền mạnh, làm tăng tài sảndưới dạng USD ở nước ngoài, nhưng đồng thời tăng thâm hụt thương mại của Mỹ vàmức độ  bất ổn trên thị trường thế giới,sự lên xuống của giá USD tác động đến hầu hết những đồng tiền khác. Đây lànhững yếu tố cơ bản dẫn đến khủng hoảng dầu mỏ vào cuối những năm 70 của thế kỷtrước, phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ đã được chuyển sang vàng, giávàng vì thế đã lên cao và đạt đỉnh điểm khoảng 850 USD/ounce vào tháng 10/1980.

Sau sự kiện 11/9/2001, cung cầu hàng hóa trên thị trường thế giớivốn đã bất ổn lại càng trở nên trầm trọng hơn, khiến cho nhiều người kỳ vọngvào sự tái hiện của khủng hoảng, giá vàng thế giới biến động thất thường theochiều hướng tăng, đạt kỷ lục 1.920,30 USD/ounce vào tháng 9/2011. Đáng chú ý,vàng đã và đang trở thành thước đo giá trị trong nhiều giao dịch thương mại,được nhiều quốc gia coi là nguồn tài chính dự trữ quan trọng, trong khi nguồntài nguyên vàng thế giới ngày càng cạn kiệt, việc khai thác cũng ngày càng khókhăn hơn. Các nhà kinh doanh thận trọng hơn, tập trung vào những nước có sự ổnđịnh về chính trị, pháp luật và kinh nghiệm quản lý, hạn chế đầu tư vào cácnước đang phát triển do mức độ rủi ro khá cao mặc dù khả năng sinh lời có thểcao hơn.

 

2. Triển vọng của vàng và vấn đề dự trữ ngoại hối

Giá vàng tăng cao đã thu hút sự quan tâm đặc biệt củacộng đồng thế giới với những phản ứng khác nhau: Một số doanh nghiệp chuyểnsang lĩnh vực khai thác vàng, các nhà đầu cơ tìm kiếm cơ hội để trục lợi, cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh (ngoài sản xuất kinh doanh vàng) tìm cách hạnchế sử dụng vàng trong giao dịch thanh toán và mở rộng các phương thức thanhtoán hiện đại.

Đối với ngân hàng trung ương (NHTW), vàng là phươngtiện dự trữ tiền tệ an toàn và có thể không bị mất giá trong dài hạn, nhưng chiphí cơ hội cao do lãi suất thấp và chi phí bảo quản lớn. Điều này bắt buộc cácNHTW phải cân nhắc điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng ưu tiên nhữngtài sản ngoại tệ có khả năng sinh lời cao, tập trung vào trái phiếu chính phủcủa những quốc gia có đồng tiền mạnh và cổ phiếu của những công ty được xếphạng tín nhiệm cao. Mặt khác, để hạn chế rủi ro và giảm sự phụ thuộc vào USD,nhiều NHTW đã thay đổi cơ cấu dự trữ ngoại hối theo hướng tăng tài sản tàichính tính bằng euro, yên Nhật và tài sản tài chính của những nước có quan hệthương mại đầu tư chủ yếu. Nhờ thặng dư cán cân vãng lai, nên nhiều NHTW có mứcdự trữ ngoại hối quá mức, song khó có thể đạt được quyết định thống nhất vềthay đổi cơ cấu dự trữ và điều chỉnh xuống mức tối ưu do việc làm này vượt quáphạm vi quyền lực của NHTW. Hơn nữa, môi trường kinh tế quốc tế còn tiềm ẩnnhiều rủi ro, nhất là khi dòng vốn quốc tế biến đổi nhanh với tần suất lớn vàsự đảo chiều của nó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống tài chính quốcgia, không loại trừ khả năng thất thoát các nguồn vốn. Trong chừng mực nào đó,dự trữ ngoại hối quá mức có thể không mang lại hiệu quả mong muốn do nhu cầu vềvốn cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước, nhưng nhìn chung là không cóhại.

Văn Thanh

 

 


  Vàng là kim loại quý giá nhất, nhưng cũng đi kèm với rất nhiều mồ hôi và nước mắt.
  Một số cách xác định tuổi vàng
  Đá nhái kim cương
  Vàng nữ trang “núp bóng”
  Tham khảo chỉ số USD index.

 
  Bảng giá tham khảo
- Cập nhật lúc: 16:32 - 09/02/2017
- ĐVT : Nghìn đồng / Chỉ
LoạiMuaBán
Nữ trang 99993.4743.624
Nữ trang 752.5282.718
Nữ trang 682.2742.464
Nữ trang 58.31.9142.114
Nữ trang 41.713101510
-00
- Bảng giá trên website thể hiện tại thời điểm cập nhật (xem thời gian cập nhật ở trên).
- Xin lưu ý: giá có thể thay đổi tại thời điểm giao dịch.
- USD theo tỷ giá ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

- Mọi chi tiết, xin vui lòng liên hệ Phòng kinh doanh - Tiếp thị CTy để cập nhật giá.

- Điện thoại liên hệ:
+ (0511)3837517
+ (0511)3631739

  Tỷ giá ngoại tệ và biểu đồ
Biểu đồ vàng Kitco 24 giờ
Click to enlarge
Biểu đồ vàng Kitco 30 ngày
Biểu đồ Kitco USD index
[Tham khao chi so USD Index]
  Quảng cáo











CÔNG TY CỔ PHẦN VÀNG BẠC ĐÁ QUÝ SJC ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 172 Hùng Vương, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng  *  Điện thoại: 0511.3837517 - 0511.3837518 - 0511.3631739
Fax: 0511.3868110 - Email: cnsjc@dng.vnn.vn - Website : http://www.sjcdanang.vn